Một buổi chiều cuối tháng 7/ 2026 ở Quy Hoà.
Mình tìm đến làng phong như địa chỉ đầu tiên và duy nhất nhất định phải ghé thăm trong lần đầu tiên tới Quy Nhơn.
Vượt qua một đoạn đèo, tới với một khu vực gần như biệt lập khỏi thành phố Quy Nhơn nhộn nhịp, là một khu vực được bao bọc bởi núi, cách thành phố khoảng 8km, nơi phải băng qua một đoạn đèo mới có thể tới. Ôm ấp một ngôi làng nhỏ là những dãy núi, trước mặt ngôi làng là một bãi biển ngắn nhưng bờ cát trắng, thoải nơi chỉ có vài con thuyền neo đậu, lặng lẽ, dịu êm.
Có hai con đường để đi vào làng, một đường đi từ cổng ngay cạnh nghĩa trang Quy Hoà, đường còn lại là đi qua cổng bệnh viện phong Quy Hoà.
Vừa đi vào cổng là công viên tượng danh nhân, đi thêm chút nữa có một khu mộ nhỏ với rất nhiều ngôi mộ vô danh và nơi an táng đầu tiên của nhà thơ Hàn Mạc Tử.
Những ngôi nhà cấp bốn nhiều màu sắc, có kiến trúc modernist bắt đầu hiện ra, xen lẫn trong những cây dương. nhiều ngôi nhà trông im lìm, nhưng phần lớn vẫn có người ở. Không dám tò mò nhìn quá nhiều, nhưng nhiều ngôi nhà chỉ mở hé cửa, để lộ không gian rất tối bên trong.

Trong một buổi chiều khi nắng đã dần tắt, thì cái nắng ở vùng biển miền trung này cũng vẫn đủ chói chang tới mức phải lấy tay che trán thì mới thấy đường trước mặt.
Trên dọc đường làng, vào một buổi chiều cuối ngày, thật dễ bắt gặp những cô chú lớn tuổi, tầm 60-80 tuổi, người thì đi xe máy, người thì đi xe lăn có cần đẩy trước mặt, phần lớn những người đi xe lăn như này đều bị thiếu mất các đốt ngón tay hoặc/ và một phần hoặc cả cẳng chân. Mình chủ động chào hỏi tất cả những người bắt găp trên đường. Không biết gì nhiều về những người ở đây ngoài những thông tin trên báo chí và internet, và đến đây tất nhiên với sự tò mò, nên mình rất dè dặt trong việc nhìn quá lâu hay nói quá nhiều.

Sau nhiều e dè ngại ngùng lúc đầu, mình dừng lại ở một ngã tư, nơi có nhiều ông bà cụ đang tụ tập nói chuyện, tất cả đều ngồi xe lăn. Khi mình nhìn và chào các cụ, có một cụ ông cười rất niềm nở chào lại mình. ông dơ tay ra về phía mình, mình tiến lại và bắt tay chào ông. ông là người Quảng ngãi, đã sống ở làng phong từ nhiều chục năm nay. tuy ông đã 97 tuổi nhưng da dẻ vẫn căng bóng, nét mặt trẻ hơn tuổi thật rất nhiều. ông đã mất cả 2 cẳng chân, tay cũng không còn nguyên vẹn, nhưng trong ánh mắt ông vẫn lấp lánh lên niềm vui của sự cởi mở, vô tư, mình không còn nhìn thấy điều đó ở những người còn lại đang ngồi xung quanh ông. mình chào các ông bà và tiếp tục đi

Hai bên đường làng , những ngôi nhà nhỏ bé xinh xắn dần hiện ra, không ngôi nhà nào giống nhau, chúng đều có số thứ tự riêng, được đánh dấu bằng mực đỏ ở góc trên bên phải ở mặt trước các ngôi nhà. Các ngôi nhà ở đây được xây dựng phần lớn bằng tiền viện trợ nhân đạo của nước ngoài trong rất nhiều năm trước giải phóng. Nghe kể lại rằng, ngôi nhà được tài trợ bởi nước nào thì sẽ được xây dựng theo phong cách nhà cửa thời đó của nước đó. Có những ngôi nhà mà tên người tài trợ, hoặc khởi xướng còn được ghi ở trên nóc nhà như một cách để bày tỏ lòng cảm ơn của những người sống ở nơi đây. Một sự thật ít ai kể về những ngôi nhà này đó là nó được xây dựng bởi chính những bệnh nhân phong sống ở đây. bằng những bàn tay không còn lành lặn của họ. Ấy thế mà những kĩ thuật xây dựng cầu kỳ như đá mà, đá rửa xuất hiện rất thường xuyên ở đây.



Mình tiếp tục đi tới gần cuối làng thì vô tình gặp một cụ ông đang tưới cây, ông có một vườn cây có nhiều hoa trái tươi tốt. Mình dừng lại chào hỏi và bất ngờ được ông cởi mở kể cho nghe nhiều chuyện ở đây. Và qua câu chuyện với ông, mình với biết thêm được rất nhiều câu chuyện xung quanh những mái nhà xanh đỏ xinh đẹp và đằng sau những con người mà mình không dám mở lời hỏi chuyện lúc ban đầu.
Cuộc sống ở làng phong thời xưa
Làng phong Quy Hoà được thành lập từ thời Pháp thuộc bởi những linh mục và bác sĩ người Pháp với mục đích là nơi chăm sóc và điều trị giảm nhẹ cho những bệnh nhân phong, những người phải chịu những nỗi đau khủng khiếp từ cả thể xác lẫn tinh thần. Ngày đó phong là một căn bệnh vô phương cứu chữa và bệnh nhân phải chịu sự kì thị, hắt hủi khủng khiếp của xã hội.
Sau thời kỳ Pháp thuộc, tới thời kháng chiến chống Mỹ, và sau này khi đất nước thống nhất, làng phong vẫn được duy trì như một địa chỉ nhân đạo, nơi nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ nhà nước và các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước.
Ông kể là ngày trước, người bệnh cứ tới giờ là cầm cà mèn đi lấy cơm ăn, có thể ngồi tại chỗ, nơi dãy nhà dài sinh hoạt chung để ăn, còn nếu không muốn ngồi đó thì có thể mang đồ ăn về ăn. Còn khi bệnh đau yếu thì làng ở ngay cạnh bệnh viện phong nên sẽ thường xuyên có y bác sĩ tới lui để chăm sóc.
Làng phong đặt cạnh bệnh viện nhưng không ở trong bệnh viện, nên những cư dân ở làng trên danh nghĩa sống như những người bình thường nhưng có bệnh chứ không phải bệnh nhân nội trú. Nhưng bệnh tật và sự kì thị của xã hội vô tình giữ họ ở yên trong những ngôi nhà đó.
Điều trị
Bệnh này trước năm 1983 vô phương cứu chữa, vi khuẩn ăn mòn dần các chi của bệnh nhân nhưng thường không giết chết người. Nó khiến tay chân người ta dần trở nên tàn phế và khiến tâm hồn người ta bị đục khoét nghiêm trọng bởi sự kỳ thị, xa lánh của không những xã hội mà còn từ chính những thân nhân của mình.
Trước năm 1982, ông kể là ở đây có một thí nghiệm chữa bệnh phong bằng phương pháp tự nhiên, nhưng phương pháp đó không thành công và kéo theo rất nhiều người chết, nhiều tới mức chôn không kịp.
Sự kì thị
Những năm 80, dẫu cho bắt đầu có thuốc điều trị phong nhưng sự kì thị vẫn còn rất khủng khiếp, kể cả các y bác sĩ cũng không thực sự tin bệnh này không lây. Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, ngày đó là giám đốc bệnh viện phong Quy Hoà đã dũng cảm tiêm dịch chứa vi khuẩn bệnh phong vào rất nhiều vị trí trên cơ thể mình để chứng minh rằng, ngay cả khi làm như vậy thì ông cũng không bị lây bệnh phong, thì làm sao mà tiếp xúc thông thường có thể lây bệnh được. Chính hành động đó đã đặt một viên gạch quan trọng trong hành trình “giải oan” gian nan cho những người bị bệnh phong và dần thay đổi cái nhìn của cộng đồng cho những người bệnh này từ lúc đó.
Ngày nay khi đi thăm làng, vẫn còn ở góc ngã tư ngay cạnh nhà tưởng niệm Hàn Mặc tử một ngôi nhà rất đẹp, ông kể, đây là phòng thay đồ của các sơ và y bác sĩ ngày xưa, mỗi khi tới thăm bệnh họ lại qua đây thay và khử khuẩn quần áo.
Làng phong dần biến mất
Do bệnh phong sau năm 1983 đã có thuốc điều trị còn ngày nay, mỗi khi bệnh nhân tới viện, họ chỉ cần điều trị một liệu ngắn ngày là đã có thể khỏi bệnh hoàn toàn nên làng phong không còn đón nhận cư dân mới từ lâu. Theo thời gian, những người bệnh năm xưa cũng già và chết. Cư dân trong làng thưa thớt dần, nhiều hộ gia đình sinh con đẻ cái thì làng lại có những cư dân mới, trẻ em chạy tung tăng chơi đùa trong làng. Chiều chiều lại nghe thấy tiếng sinh hoạt cộng đồng trong nhà thờ thế hệ trẻ truyền lại với nhau những câu chuyện họ được kể hoặc được học về lịch sử làng phong, về thời gian thành lập, người thành lập và rất nhiều những câu chuyện khác. Không còn nghe thấy hay nhìn thấy sự tự ti hay che giấu, ở đây, những người già kể về những nỗi đau đã qua cởi mở hơn cả cách mà những người phương xa như mình tìm tới dè dặt đặt những câu hỏi. Còn những thế hệ sau, họ không những ôn lại lịch sử nơi đây với nhau trong những mái nhà, trong những lớp học mà họ đứng trong sân nhà thờ, bật loa, cầm mic vui vẻ cùng nhau ôn bài, chẳng ngần ngại kể cho thế giới về ngôi làng nơi cha mẹ, ông bà họ đã trải qua cả một cuộc đời đặc biệt ở đây.
Đâu đó quanh làng, thỉnh thoảng ta lại bắt gặp những bức tượng Chúa: khi thì Người khổ hạnh trên cây Thánh giá, khi thì Người đang âu yếm hôn lên mái đầu một đứa trẻ. Trong ánh nắng chiều dần tắt, âm thanh đời thường đan cài vào nhau như bất cứ xóm làng yên bình nào khác, tiếng loa phát ra từ nhà thờ, tiếng sóng biển rì rào, tiếng các cụ già rầm rầm trò chuyện, xen lẫn tiếng trẻ em tung tăng nô đùa.


Mình đứng đó, miên man thả tâm trí về những đớn đau tăm tối đã diễn ra nơi đây suốt gần một thế kỷ. Về cách mà những con người này đã vượt qua bi kịch thân phận: dẫu ngón tay hay cẳng chân đã mất đi mãi mãi không thể mọc lại, họ vẫn chọn tiếp tục sống và gieo xuống những mầm yêu thương. Trên mảnh đất tưởng chừng chỉ có tủi hờn và nước mắt, những thế hệ mới vẫn tiếp tục ra đời.
Nơi miền đất khô cằn sỏi đá ấy, Chúa ôm ấp lấy những phận đời khốn khổ; những người lành lặn dấn thân tới cưu mang; và hơn hết, những người cùng khổ nương tựa, che chở lẫn nhau. Sự sống không chỉ được giữ lại, mà còn được tiếp nối. Như những cái cây từng bị sâu bệnh đục khoét đau đớn, nhưng bằng tình yêu thương và sự kiên cường bền bỉ, nó vẫn đơm hoa kết trái.

Ngoài kia, sóng vẫn bền bỉ xô bờ, mang đi xa vết thương ngày cũ, trả lại cho biển sự hiền hòa, và trả lại cho người những tháng ngày dịu dàng sau cả một đời bão giông.
